14 – Trí tuệ và Tam vô lậu học?
BÁT NHÃ TÂM KINH GIẢNG GIẢI
VÔ THƯỢNG NIẾT BÀN
Lê Sỹ Minh Tùng
14 – Trí Tuệ Và Tam Vô Lậu Học?
1) Giới: Giới không phải là những điều răn mà một vị giáo chủ đặt ra để buộc tín đồ tuân phục mình. Mà giới trong Phật giáo có nghĩa là dẹp bỏ những thói quen bất thiện đã tập nhiễm từ lâu và ngăn ngừa các điều ác có thể gây ra về sau. Thêm nữa giới cũng có nghĩa là phát triển những điều lành đã sẵn có và cố gắng tạo thêm các điều lành chưa từng làm. Vì thế giới là điều kiện tiên quyết để giữ tâm không vọng động, cho nên trong kinh có câu:”Giới năng sinh Định”.
2) Định: Khi giới đã được thực hành đứng đắn thì tâm tương đối bớt xao động và nếu được giữ trên một đối tượng thiền Định thì tâm sẽ được an tịnh và thoát khỏi dục vọng để trở nên trong sáng. Một khi được an trú trong thiền định thì tâm sẽ được nhu thuần, minh mẫn, kiên cố và dũng mảnh. Đây là những điều kiện căn bản để trí tuệ có thể phát sinh và vì thế kinh lại dạy rằng:’’Định năng sinh Huệ”.
3) Tuệ: Khi tâm đã được an tịnh, sáng suốt và giác tỉnh nhờ thiền định. Bây giờ trí tuệ sẽ phát sinh và nhờ đó chúng ta có thể nhận chân được thực tướng của vạn hữu. Giới, Định, Tuệ tương quan mật thiết với nhau bởi vì do trì giới mà thân tâm không loạn động. Do thân tâm không loạn động mà tâm trí được Định. Khi tâm trí đã Định thì trí tuệ phát sinh. Ngược lại nếu trí tuệ phát chiếu thì tâm dễ Định. Mà tâm đã Định thì Trí tuệ dễ phát sinh. Khi có trí tuệ tức là có thể nhận ra được cái tự tánh thanh tịnh, bất sanh bất diệt mà xưa kia chư Phật và chư Tổ đã chứng đắc. Mà kiến tánh chính là sự phối hợp tự nhiên giữa Định và Tuệ. Định là sức mạnh và Tuệ là chất xúc tác để mở con mắt tâm. Nếu thiếu trí tuệ thì con người chỉ có thể kinh nghiệm được những cái gì hời hợt, nông cạn chợt đến, chợt đi trong chốt lát và sau cùng chỉ là những kỷ niệm rời rạc chẳng giúp ích gì mà còn là những chướng ngại nếu con người cứ mãi bám víu vào đó. Ngày xưa có vị Thiền sư rất tinh tấn tu hành. Vì thấy vị nầy đạo cao đức trọng nên có một Phật tử tự nguyện cất cho Thầy một cái am để tu. Vị Phật tử nầy là một bà già sống với một đứa cháu gái cách cái am không xa. Hằng ngày bà sai đứa cháu gái đem cơm nước dâng cúng đều đặn. Ngày qua tháng lại, mà vị Thiền sư đã tu tại am nầy trên ba năm rồi. Muốn biết sự tiến tu của vị Thiền sư như thế nào cho nên một ngày nọ bà già dặn đứa cháu gái ở tuổi trăng tròn rằng:
– Cháu đem cơm vô cho Thầy, để mâm cơm xuống rồi cháu ôm cứng lấy ông ta và hỏi:”Ngài cảm thấy thế nào?”. Nghe trả lời xong cháu về thuật lại cho bà nghe.
Đứa cháu gái vâng lời làm y như thế thì vị Thiền sư trả lời bằng hai câu thơ:
“Khô mộc ỷ hàn nham
Tam xuân vô noãn khí”.
Dịch là:
Cây khô tựa trên núi lạnh
Ba mùa xuân qua rồi mà không có chút hơi ấm.
Khi đứa cháu gái về thuật lại hai câu thơ trên thì bà già nổi giận bèn đuổi vị Thiền sư, đốt luôn cái am và phàn nàn:”Uổng công ta nuôi ông Thầy phàm phu”.
Đối với hành động đạo đức và công phu tu tập của vị Thiền sư thì chúng ta chắc chắn sẽ nghiêng mình kính phục, nhưng tại sao bà già lại tức giận đốt am?
Vị Thiền sư nói bây giờ ông cũng như là cây khô trên núi lạnh dầu trải qua ba mùa xuân rồi mà không có có một chút hơi ấm có nghĩa là không có việc gì có thể làm cho ông ta khởi động niệm được. Thế thì nhờ tinh tấn tu hành
mà vị Thiền sư nầy đã đoạn trừ tất cả phiền não, tâm hằng vắng lặng chẳng khác chi một cây khô. Nhưng “Vô tâm duy cách nhất trùng quan” tức là mặc dầu tu tới chỗ “vô tâm” có nghĩa là dứt hết phiền não nhưng vẫn còn cách
một lớp rào nữa chứ chưa phải là viên mãn. Tu hành như thế mà còn bị bà
già chê. Tại sao? Trong tam vô lậu học tức là Giới Định Tuệ thì trí tuệ bát
nhã mới là cứu cánh của người tu hành vì nếu không phát sinh được trí tuệ
thì người tu vẫn còn lênh đênh trên mặt nước chớ chưa đến được bờ bên kia
tức là bờ giác ngộ. Vì tâm không khởi động niệm có nghĩa là tuy có Định
lực cao nhưng vẫn thiếu chất xúc tác là Trí tuệ để khai thị con mắt tâm. Con
mắt tâm không mở thì suốt đời vẫn không thấy được tánh giác thanh tịnh
sáng suốt triệt để của mình. Nhờ bà già đốt am mà vị Thiền sư kia mới thấy
được chỗ mắt kẹt của mình là dậm chân tại chỗ ở Định mà quên đi cứu cánh
là Tuệ.
Vì thế Trí tuệ chính là cứu cánh của người tu Phật cho nên trước khi nhập
diệt, Đức Phật đã tha thiết khuyên các đệ tử của Ngài phải trau dồi trí tuệ.
Trong Kinh Di Giáo, Phật có dạy rằng:
“ Trí tuệ là chiếc thuyền kiên cố đưa con người thoát khỏi biển già, đau,
chết. Chính nó là ngọn đèn lớn chói sáng vô minh hắc ám, là liều thuốc hay
chữa hết thảy bệnh tật, là chiếc búa sắt chặt gãy cây phiền não. Vậy các
ngươi phải lấy sự nghe, sự suy nghĩ, sự tu tập mà tăng ích cho trí tuệ của
mình”.
Tóm lại tu theo lục độ ba-la-mật giúp con người phát nguyện theo con
đường thiện xảo và tu hành tinh tấn của Bồ tát để đánh tan những tham cầu,
ngã mạn. Khi lấy chúng sinh làm trọng tâm của mọi hành động để đánh đổ
cái Ta của tự ngã làm cho Thân-Khẩu-Ý được thanh tịnh và chứng ngộ được
chân lý.
Thật vậy, đạo Phật là đạo từ bi và giác ngộ. Từ bi thì thuộc về phước và giác
ngộ thì thuộc về huệ. Vì thế phước huệ song tu mới thành ngôi Chánh giác.
Do đó trong sáu pháp ba-la-mật thì bố thí và nhẫn nhục thuộc về tu phước.
Thiền định và trí tuệ thuộc về tu huệ còn trì giới và tinh tấn là hai chất liệu
có công năng kiểm soát và đốc thúc cho việc tu phước và huệ được thành
tựu viên mãn.
Vậy lục độ ba-la-mật là chiếc thuyền Bát nhã đưa chúng sinh từ bờ mê đến
bến giác. Chúng ta thực hành lục độ ba-la-mật là để tăng trưởng và nuôi
dưỡng tâm Từ-Bi-Hỷ-Xả và đoạn trừ tâm Tham-Sân-Si làm trí tuệ được phát
triển để giải thoát ra khỏi sinh tử khổ đau và thể nhập tánh-Không của Bát
nhã.
Chữ “Trí” trong câu “Vô Trí” chỉ phần thứ sáu là Trí tuệ trong Lục độ ba-lamật. Vì Trí Tuệ là bước cuối cùng trong pháp Lục độ, do đó khi nói “Vô
Trí” tức là nói “Vô Lục Độ” tức là không có Lục độ. Tu theo Lục độ ba-lamật sẽ giúp chúng sinh khai mang trí tuệ để chứng đắc sự sáng suốt của chư
Bồ tát và cuối cùng đạt đến quả vị Đẳng giác của chư Phật. Như thế chữ
“Đắc” trong câu “Vô Đắc” tức là Vô Phật quả khả đắc có nghĩa là không có
cái quả Phật mà đạt được.
Vậy ở đây một lần nữa Đức Phật lại đã phá những gì Phật đã dạy. Chúng ta
thấy từ Tứ Diệu Đế đến Thập Nhị Nhân Duyên và sau cùng là Lục Độ Ba-lamật, Đức Phật đã phủ nhận tất cả. Mà hễ phá những “xuất thế gian pháp”
nầy tức là phá luôn những kết quả mà chính Đức Phật đã hứa với đệ tử của
Ngài từ hàng Thanh Văn đến hàng Duyên Giác cho đến bậc cao hơn là Bồ
Tát.
Tại sao lại có sự trái ngược như vậy? Trên đời nầy lại có chuyện trống đánh
xuôi mà kèn thổi ngược như vậy sao?
Vì là phàm nhân cho nên con người lúc nào cũng cho thân tâm tức là ngũ
uẩn là thật Có. Mà nếu ngũ uẩn là thật Có thì dĩ nhiên trong ta phải có cái
Ta. Ta có cái Ta của ta còn vạn vật có cái Ta của vạn vật vì theo luật tương
đối là hễ có chủ là phải có khách. Như thế thì:
Có cái Ta là chấp có “ngã” tức là ngã chấp.
Có vạn vật là chấp có “pháp” tức là pháp chấp.
Nay Tâm Kinh đã chỉ cho thấy “Ngã” và “Pháp” đều Không thì dĩ nhiên
chúng ta không còn chấp ngã, chấp pháp nữa. Nếu bỏ được hai cái chấp nầy
là chúng ta có thể bỏ được con đường thế tục với tất cả những sai lầm bấy
lâu. Thế nhưng nếu chúng sinh không mê chấp việc đời thì Đức Phật lo ngại
chúng sinh sẽ lại mê chấp việc đạo vì tin tưởng rằng những gì Phật dạy trong
ba từng giáo Pháp là Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên và Lục Độ Ba-lamật là thật Có. Chẳng hạn như khi nghe nói Khổ thì tưởng Khổ là cái gì thật
Có. Hay nghe nói Vô Minh thì nghĩ rằng Vô Minh là cái gì cũng thật Có.
Ngay cả khi nghe nói Trí tuệ phải tu, Phật quả phải đạt rồi cứ tưởng Trí tuệ
và Phật quả là những cái gì thật Có. Vì lo ngại như thế cho nên Đức Phật
phá luôn những cái chấp của người tu hành tức là cái chấp về “xuất thế gian
pháp”.
Thói thường khi đã nghĩ Khổ là thật Có thì chúng ta lại lầm tưởng luôn sự
diệt Khổ là thật Có. Nếu lầm tưởng Vô Minh là thật Có thì phải lầm tưởng
luôn là phải chấm dứt cái Vô minh tức là vô-minh-tận. Nếu lầm tưởng Trí
tuệ là thật Có thì phải lầm tưởng luôn là có thể một ngày nào đó chúng ta sẽ
nắm lấy cái Trí tuệ nầy. Còn hễ lầm tưởng Phật quả hay thành Phật là một
cái gì thật Có thì ắt phải lầm tưởng luôn rằng đó là một cái gì mà mình sẽ
thu nhập được.
Tất cả những lầm tưởng nầy đều là bệnh của người đang tu trên con đường
“xuất thế gian” tức là người tu hành mong cầu được giải thoát giác ngộ
nhưng chưa đến chỗ cứu cánh tột đỉnh.
Vậy chỗ cứu cánh tột đỉnh ở đâu?
Khi kẻ tu hành đạt đến trình độ hành thâm Bát nhã ba-la-mật thì trong cái
thời điểm mà thấy trong thâm tâm trống rỗng và vắng lặng hoàn toàn thì một
ánh sáng huy hoàng bộc phát làm cho con người thấy rằng:
Ø Khổ, Tập, Diệt, Đạo chỉ là giả danh.
Ø Thập Nhị Nhân Duyên chỉ là giả danh.
Ø Trí tuệ, Phật quả chỉ là giả danh.
Tại sao? Bởi vì tất cả những “Pháp” ấy đều là danh từ, không có gì là thật
thể và những ý niệm do những danh từ ấy tạo ra trong tâm của chúng ta cũng
đều là ngụy tạo, là giả dối do đối đãi mà tạo ra.
Muốn thấu hiểu tường tận chúng ta hãy phân tích từng giáo Pháp một để tìm
xem giả dối ở chỗ nào.
1) Tứ Diệu Đế: Trong cuộc đời phải chăng chúng ta cho có Thân là có Khổ
vì thế Đức Phật mới đối lại là chỉ cho phương cách diệt Khổ tức là chân lý
Tứ Diệu Đế? Bây giờ nếu con người sống với Chơn tánh tức là Chơn không
mà không sống với Thân thì dầu chúng ta có Thân mà Thân vẫn không với
chúng ta. Vì thế cái Khổ do Thân cảm thọ cũng tiêu mất. Do đó nếu bệnh đã
không có thì đâu cần phải có thuốc. Vậy Khổ là cái gì? Nó có thật thể hay là
giả dối?
Trong thế gian nầy bất cứ cái gì mà không xứng ý vừa lòng, không thích với
thân nầy có nghĩa là đi ngược lại với sở thích của ngũ uẩn thì chúng ta gọi là
Khổ chứ cái Khổ thật không có. Chẳng hạn nếu cho rằng cay đắng là Khổ thì
tại sao có người thích ăn ớt và uống rượu? Còn nếu nói rằng danh lợi đem
hạnh phúc đến cho con người và làm cho con người thêm sung sướng thì tại
sao có người ngậm danh lợi như ngậm bồ hòn? Như thế thì cái Khổ là cái gì
cảm nhận do lòng say đắm, tối tăm hay do cái vọng tưởng, mê hoặc của con
người sống vì vật chất tạo ra mà vật chất là Tướng. Cái Khổ nầy không thật
Có và nhất là không Có tức là Vô trong lòng người đã tỉnh ngộ và trong
những tâm hồn trong sạch, sáng suốt triệt để tức là trong Chơn không. Vậy
đứng về phương diện Chơn không, Tuyệt đối mà nhìn thì rõ ràng là không
có Khổ. Mà nếu không có Khổ thì không có nguyên nhân của sự Khổ tức là
Tập, cũng không có phương pháp diệt Khổ tức là Đạo và cuối cùng cũng
không có cái Khổ bị diệt tức là Diệt. Vì thế mà Tâm Kinh mới nói :” (Thị cố
không trung) vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo” là vậy.
2) Thập nhị Nhân Duyên: Như trên đã nói nếu không có cái Khổ thì cái
chấp Tứ Diệu đế đã bị phá. Vậy bây giờ tới pháp thập nhị Nhân Duyên thì
cái gì là không thật Có?
Dựa theo thuyết mười hai Nhân Duyên thì từ Vô Minh mà có Hành, từ Hành
mà có Thức…sau cùng từ Sanh mà có Lão Tử. Như thế thì động lực đưa đến
cái “già-chết” chính là Vô minh. Mười hai Nhân Duyên là mười hai vòng
xích không có điểm bắt đầu mà cũng không có điểm cuối, vì thế nếu có thể
phá vỡ một vòng xích thì tất cả vòng xích nầy sẽ phải vỡ theo.
Nhưng thế nào là Vô minh? Vô minh chỉ là một giả danh để diễn tả sự mê
mờ không sáng suốt do không thấu hiểu Chân lý chân tướng để cho ngũ uẩn
che đậy và bị tham-sân-si phiền não làm chướng ngại nặng nề gây ra sự lầm
lẫn và có cái nhìn sai lạc về bản chất của vạn hữu. Như thế thì không có cái
gì là chơn thật Vô minh mà chỉ có những trạng thái mê mờ của tâm hồn, của
trí tuệ mà thôi.
Nếu Vô minh đã không thật Có thì làm gì cần có cái việc làm cho Vô minh
tiêu mất tức là làm cho “hết Vô minh” hay là “Vô minh tận”. Nhưng Vô
minh, một vòng xích lớn trong chuổi xích thập nhị Nhân duyên, đã không
thật Có thì những vòng xích nối tiếp là Hành, Thức, Danh Sắc, Lục Nhập,
Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sanh và Lão Tử cũng không thật Có.
Vì thế thập nhị Nhân Duyên là không thật Có thì dĩ nhiên không có cái việc
gọi là làm cho “hết Hành”, “hết Thức”…và “hết Lão Tử” tức là “Lão Tử
tận” vậy.
Nói tóm lại Đức Phật đã dùng pháp thập nhị Nhân Duyên và pháp Tứ Diệu
đế để giúp chúng sinh trị dứt bệnh mê lầm lấy giả làm thật bấy lâu nay.
Trong hai mươi năm đầu kể từ khi Đức Phật thành đạo thì Ngài chưa hề nói
Kinh Bát nhã cho nên chưa có đệ tử nào thâm hiểu ý nghĩa cao siêu của tuệ
giác Bát nhã cả. Cũng vì chúng sinh chưa có “Bát nhã” tức là chưa sáng mắt
cho nên còn thấy có vui buồn, sướng khổ và sanh tử. Đức Phật đã nương
theo nguyên tắc của pháp hữu vi mà dạy rằng nguyên nhân căn bản của dòng
sông khổ đau, sanh, già, bệnh, chết là Vô minh.
Con người có sáng suốt để làm cạn nguồn Vô minh nầy thì dòng sông khổ
đau kia mới dứt, mới tận. Nhưng làm thế nào để tát cạn nguồn Vô minh kia?
Muốn không còn phiền não khổ đau thì phải chấm dứt Vô minh. Mà muốn
dứt Vô minh thì nên khước từ say đắm. Vì thế nếu chúng sinh không còn say
đắm thì sẽ trở thành người sáng suốt và một khi đã trở thành người sáng suốt
là họ sẽ hết Vô minh. Chẳng hạn như tắt đèn thì gọi là tối còn đèn thì sáng.
Nhưng sự thật không có cái tối và cái sáng mà chỉ có hai quang cảnh trái
ngược nhau mà thôi. Vô minh thì cũng thế, không có cái Vô minh thật sự thì
cũng không có cái sáng suốt thật sự mà chúng ta gọi là Trí tuệ.
Thật vậy nếu nói không có Vô minh, cũng không có cái “hết vô minh” tức là
người tu hành sau khi dựa vào cái sáng suốt quán tự tại và soi thấy được cái
tánh Không của ngũ uẩn tức thì ánh sáng thiêng liêng nơi mình không còn bị
chướng ngại che lấp nên trở thành rực rỡ mà soi sáng hoàn toàn cái Thể. Lúc
ấy tất cả sáu Căn, sáu Trần và sáu Thức đều Không tức là trong thì Không và
ngoài cũng Không. Như thế thì Vô minh vọng niệm làm sao mà có được?
Do đó nếu trong đã Không thì dĩ nhiên không có Vô minh. Nếu Vô minh đã
không Có thì cần gì phải nói đến cái “hết Vô minh”.
3) Lục độ Ba-la-mật: Vậy cái Trí tuệ mà chúng sinh cố gắng tu theo pháp
Lục độ ba-la-mật để đạt đến cứu cánh sau cùng nầy cũng chỉ là một giả danh
vì thế không có cái gì thật là Trí tuệ cả. Cùng một lý luận thì cái “Được” tức
là “Đắc” để thành Phật tức là Phật quả là một giả danh khác vì lý do là nếu
chấp có chúng sinh mê muội đau khổ nên phải có cái chấp đối lại là có Phật
sáng suốt, an vui.
Khi chúng ta thực hành Lục Độ Ba-la-mật mà còn thấy trên có Phật đạo để
thành tức là Đắc và dưới có chúng sinh nên độ thì chúng ta còn cái tâm
“chấp Có”. Như vậy là chúng ta còn sống trong sự chi phối của cái Thức tức
là trong vòng tương đối. Bây giờ khi sống trong Chơn không, Thực tướng,
tuy con người vẫn thực hành pháp Lục Độ Ba-la-mật nhưng không nên chấp
một pháp nào hết. Nói một cách khác là nếu không chấp cái tướng Lục Độ
tức là Vô Trí thì cái tâm không đắc quả tức là Vô Đắc cũng không còn. Như
thế thì mới thật là hết sức từ bỏ, hết sức buông xả và hết sức tỉnh ngộ.
Như thế thì đoạn Kinh từ :”vô Vô-minh, diệt vô Vô-minh tận; nãi chí vô lão
tử, diệc vô lão tử tận; vô Khổ, Tập, Diệt, đạo; vô trí diệc vô Đắc” có nghĩa là
: Trong Chơn-không, trong Sự thật, trong Tuyệt Đối, không có những cái gọi
là Tứ Diệu Đế, Thập nhị Nhân Duyên, Lục Độ Ba-la-mật, cũng không có Trí
tuệ phải tu, Phật quả phải chứng. Tất cả những “pháp” nầy là những giả
danh, là những ảo tưởng dùng để đối trị với những ảo tưởng nghịch lại.
Chẳng hạn như nếu bị đạp gai thì lấy gai mà lể.
Nói một cách khác là nếu con người còn sống trong vòng mê muội của thế
gian thì tất cả những “pháp” nầy rất cần cho họ chẳng khác nào như người
đang lặn hụp dưới nước thì cần phải có phao, hay có thuyền để sống. Nhưng
ở đây, Tâm Kinh đưa chúng ta sang một thế giới khác. Đây là thế giới của
Chân không, của Thực tướng, của Tuyệt đối mà trong ấy không có gì cả. Vì
thế mà có những bậc đã thấy được Chân tướng thì họ sống trong cái Thể mà
không thấy Tướng. Họ không còn nói đến kinh sách mà cũng không còn
biện luận bàn cải gì nữa tức là bất lập văn tự, tuyệt ngữ ngôn. Đối với họ thì
như người đã lên bờ vì thế họ không còn nói đến phao hay thuyền vì đối với
họ thuyền hay phao bây giờ không còn cần thiết nữa.